23/06/2024
5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền
Bên cạnh việc phân nhóm ứng xửa với sự đổi mới, Rogers đề cập đến yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ lan truyền của một sáng kiến, bao gồm:
• Ưu Thế Tương Đối (Relative Advantage): Bạn phải chứng minh được sáng kiến /công nghệ mới là tốt hơn so với các lựa chọn hiện có.
Ví dụ bạn có thể so sánh là so với thiết kế 2D, bạn mất nhiều thời gian đối chiếu mặt cắt, mặt bằng với mặt đứng trong khi việc này là tự động với thiết kế 3D. thay vì phải duyệt mấy chục bản vẽ giấy, đối chiếu qua lại thì chỉ cần xoay xoay nmô hình 3D là xong…
• Tương Thích (Compatibility): Mức độ phù hợp của sáng kiến/cộng nghệ mới với các giá trị, kinh nghiệm và nhu cầu của người dùng hiện tại và tiềm năng.
Ví dụ khi thuyết phục người khá ứng dụng BIM, bạn nên nói là công việc hiện tại của bạn không có thay đổi gì hết. Sản phẩm của bạn như xưa nhưng cách làm của bạn hiện đại và hiệu quả hơn. Nói chung, BIM tương thích với công việc hiện tại của bạn.
Chứ bạn phủ đầu luôn là người ta đang làm sai, phải làm BIM như dzầy mới đúng thì bạn biết kết quả là thế nào rồi đấy 😊.
• Độ Phức Tạp (Complexity): Mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi hiểu và sử dụng sáng kiến/công nghệ mới.
Tương tự như tính tương thích, bạn đưa người ta vào một thế giới đầy thuật ngữ phức tạp của BIM, với các khái niệm không có hồi kết và đòi đập đi làm lại thì người ta sẽ dội ra ngay. Phải thuyết phục là ai cũng liên quan và có thể làm BIM.
• Khả Năng Thử Nghiệm (Trialability): Khả năng có thể thử nghiệm sáng kiến / công nghệ mới trên trên phạm vi nhở trước khi quyết định Áp dụng trên diện rộng.
Bạn không cần ăn hết cả con voi một lúc. Chai nhỏ nó ra và triển khai các ứng dụng BIM theo thứ tự ưu tiên theo nhu cầu của đơn vị bạn. Bạn khoogn cần phải đập đi làm lại, bạn có thể sử dụng nhân sự hiện tại và áp dụng trên một vài công trình trước khi chuyển đổi cả công ty.
Đấy là là khả năng tiếp cận có thử nghiệm của BIM.
• Khả Năng Quan Sát (Observability): Mức độ Nhìn thấy kết quả của việc áp dụng sáng kiến/công nghệ mới bởi những người khác.
Ha ha, quê tôi có nhiều người theo dõi để áp dụng nhưng còn nghi ngờ lắm. Không sao, BIM nó đâu còn là bí mật công nghệ gì nữa đâu, thiên hạ áp dụng nhiều và có kết quả nhãn tiền rồi. Anh áp dụng đi chứ không thành người Lỗi Lạc đấy.
Đấy, bạn nào làm triển khai hoặc nhân viên bình thường cũng nên tìm hiểu về lý thuyết khuếch tán sáng tạo để biết cách ứng xử với những gì đang diễn ra. Biết mình thuộc nhóm nào và cần làm gì.
Trong hình ở dưới, các bạn cũng cần quan tâm đến 2 điểm là “Điểm bùng phát” (tipping point) và “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass).
Điểm bùng phát (tipping Point) là giai đoạn khi một sáng kiến hoặc công nghệ mới đạt đến một mức độ phổ biến nhất định và bắt đầu lan truyền nhanh chóng trong cộng đồng/xã hội. Đây là điểm mà sự chấp nhận và sử dụng công nghệ chuyển từ việc chỉ có một số ít người tiên phong (Innovators) và những người chấp nhận sớm (Early Adopters) sang một lượng lớn người dùng chính thống (Early Majority và Late Majority).
Tipping point thường xảy ra khi khoảng 15-20% người dùng đã chấp nhận và sử dụng công nghệ hoặc sáng kiến mới. Một khi đạt đến điểm này, công nghệ mới xem như là được chấp nhận và việc phổ biến sẽ được tăng tốc.
Điểm quan trọng thứ hai là “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass). Đây là điểm mà sau đó, quá trình lan truyền đã trở nên tự nhiên và mạnh mẽ, tự nó duy trì chứ không cần quá nhiều nỗ lực thúc đẩy từ bên ngoài như từ các chef hay chính phủ nữa.
Điểm này thường xảy ra khi có khoảng 50% người dung. Khi số lượng người dùng đạt đến critical mass, việc tham gia áp dụng công nghệ mới trở nên gần như bắt buộc để duy trì kết nối với thị trường hay nói nôm nà là “Áp dụng hay là chết” (To be or to die), dẫn đến sự bùng nổ người dùng mới.
Thường thì có các đơn vị nghiên cứu thị trường làm công việc thống kê này để biết thị trường đang ở điểm nào. Ví dụ với việc chuyển đổi số trong xây dựng thì ở Anh hằng năm có hội NBS phải điểu tra và ra các “Digital Construction Report”. Đọc các báo cáo gần đây thì đâu đấy có 71% đơn vị bảo là đã ứng dụng BIM. Tức là thị trường đã vượt qua điểm Số lượng tới hạn hay là điểm mà “Tôi không làm gì sai nhưng không hiểu sao lại thất bại” (NOKIA CEO)
Mình không biết ở VN có đơn vị nào làm cái này không ? Nhưng ít nhất, hiểu rõ về tipping point, critical mass point, có thể giúp các nhà quản lý có các chiến lược hiệu quả để thúc đẩy sự chấp nhận và triển khai công nghệ mới như BIM, ở mức độ doanh nghiệp cũng như quốc gia. Ví dụ, việc đầu tư vào đào tạo và hỗ trợ một nhóm người dùng ban đầu có thể tạo ra một tipping point, từ đó thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi hơn trong toàn ngành. Đấy là những việc mình thấy chính phủ VN đang làm.