Thuvienbim

Thuvienbim Thuvienbim là kênh thông tin về công nghệ BIM tại Việt Nam. Chúng tôi chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm để việc tiếp cận BIM trở nên dễ dàng hơn.

Chúng tôi là đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư đang làm việc trong nước cũng như nước ngoài. Với niềm đam mê và tâm huyết, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ bé của mình để thúc đẩy những tiến bộ trong ngành xây dựng tại Việt Nam. Các thông tin của chúng tôi tập trung vào công nghệ BIM tại Việt Nam và trên thế giới. Các thông tin sẽ được cập nhật hàng tuần. Xin vui lòng nhấn Subscribe để theo dõi kênh thông tin. Cảm ơn các bạn đã theo dõi!

5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyềnBên cạnh việc phân nhóm ứng xửa với sự đổi mới, Rogers đề cập đến yếu tố ảnh h...
23/06/2024

5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền
Bên cạnh việc phân nhóm ứng xửa với sự đổi mới, Rogers đề cập đến yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ lan truyền của một sáng kiến, bao gồm:

• Ưu Thế Tương Đối (Relative Advantage): Bạn phải chứng minh được sáng kiến /công nghệ mới là tốt hơn so với các lựa chọn hiện có.

Ví dụ bạn có thể so sánh là so với thiết kế 2D, bạn mất nhiều thời gian đối chiếu mặt cắt, mặt bằng với mặt đứng trong khi việc này là tự động với thiết kế 3D. thay vì phải duyệt mấy chục bản vẽ giấy, đối chiếu qua lại thì chỉ cần xoay xoay nmô hình 3D là xong…

• Tương Thích (Compatibility): Mức độ phù hợp của sáng kiến/cộng nghệ mới với các giá trị, kinh nghiệm và nhu cầu của người dùng hiện tại và tiềm năng.

Ví dụ khi thuyết phục người khá ứng dụng BIM, bạn nên nói là công việc hiện tại của bạn không có thay đổi gì hết. Sản phẩm của bạn như xưa nhưng cách làm của bạn hiện đại và hiệu quả hơn. Nói chung, BIM tương thích với công việc hiện tại của bạn.

Chứ bạn phủ đầu luôn là người ta đang làm sai, phải làm BIM như dzầy mới đúng thì bạn biết kết quả là thế nào rồi đấy 😊.

• Độ Phức Tạp (Complexity): Mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi hiểu và sử dụng sáng kiến/công nghệ mới.

Tương tự như tính tương thích, bạn đưa người ta vào một thế giới đầy thuật ngữ phức tạp của BIM, với các khái niệm không có hồi kết và đòi đập đi làm lại thì người ta sẽ dội ra ngay. Phải thuyết phục là ai cũng liên quan và có thể làm BIM.

• Khả Năng Thử Nghiệm (Trialability): Khả năng có thể thử nghiệm sáng kiến / công nghệ mới trên trên phạm vi nhở trước khi quyết định Áp dụng trên diện rộng.

Bạn không cần ăn hết cả con voi một lúc. Chai nhỏ nó ra và triển khai các ứng dụng BIM theo thứ tự ưu tiên theo nhu cầu của đơn vị bạn. Bạn khoogn cần phải đập đi làm lại, bạn có thể sử dụng nhân sự hiện tại và áp dụng trên một vài công trình trước khi chuyển đổi cả công ty.

Đấy là là khả năng tiếp cận có thử nghiệm của BIM.

• Khả Năng Quan Sát (Observability): Mức độ Nhìn thấy kết quả của việc áp dụng sáng kiến/công nghệ mới bởi những người khác.
Ha ha, quê tôi có nhiều người theo dõi để áp dụng nhưng còn nghi ngờ lắm. Không sao, BIM nó đâu còn là bí mật công nghệ gì nữa đâu, thiên hạ áp dụng nhiều và có kết quả nhãn tiền rồi. Anh áp dụng đi chứ không thành người Lỗi Lạc đấy.

Đấy, bạn nào làm triển khai hoặc nhân viên bình thường cũng nên tìm hiểu về lý thuyết khuếch tán sáng tạo để biết cách ứng xử với những gì đang diễn ra. Biết mình thuộc nhóm nào và cần làm gì.

Trong hình ở dưới, các bạn cũng cần quan tâm đến 2 điểm là “Điểm bùng phát” (tipping point) và “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass).

Điểm bùng phát (tipping Point) là giai đoạn khi một sáng kiến hoặc công nghệ mới đạt đến một mức độ phổ biến nhất định và bắt đầu lan truyền nhanh chóng trong cộng đồng/xã hội. Đây là điểm mà sự chấp nhận và sử dụng công nghệ chuyển từ việc chỉ có một số ít người tiên phong (Innovators) và những người chấp nhận sớm (Early Adopters) sang một lượng lớn người dùng chính thống (Early Majority và Late Majority).

Tipping point thường xảy ra khi khoảng 15-20% người dùng đã chấp nhận và sử dụng công nghệ hoặc sáng kiến mới. Một khi đạt đến điểm này, công nghệ mới xem như là được chấp nhận và việc phổ biến sẽ được tăng tốc.

Điểm quan trọng thứ hai là “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass). Đây là điểm mà sau đó, quá trình lan truyền đã trở nên tự nhiên và mạnh mẽ, tự nó duy trì chứ không cần quá nhiều nỗ lực thúc đẩy từ bên ngoài như từ các chef hay chính phủ nữa.
Điểm này thường xảy ra khi có khoảng 50% người dung. Khi số lượng người dùng đạt đến critical mass, việc tham gia áp dụng công nghệ mới trở nên gần như bắt buộc để duy trì kết nối với thị trường hay nói nôm nà là “Áp dụng hay là chết” (To be or to die), dẫn đến sự bùng nổ người dùng mới.

Thường thì có các đơn vị nghiên cứu thị trường làm công việc thống kê này để biết thị trường đang ở điểm nào. Ví dụ với việc chuyển đổi số trong xây dựng thì ở Anh hằng năm có hội NBS phải điểu tra và ra các “Digital Construction Report”. Đọc các báo cáo gần đây thì đâu đấy có 71% đơn vị bảo là đã ứng dụng BIM. Tức là thị trường đã vượt qua điểm Số lượng tới hạn hay là điểm mà “Tôi không làm gì sai nhưng không hiểu sao lại thất bại” (NOKIA CEO)

Mình không biết ở VN có đơn vị nào làm cái này không ? Nhưng ít nhất, hiểu rõ về tipping point, critical mass point, có thể giúp các nhà quản lý có các chiến lược hiệu quả để thúc đẩy sự chấp nhận và triển khai công nghệ mới như BIM, ở mức độ doanh nghiệp cũng như quốc gia. Ví dụ, việc đầu tư vào đào tạo và hỗ trợ một nhóm người dùng ban đầu có thể tạo ra một tipping point, từ đó thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi hơn trong toàn ngành. Đấy là những việc mình thấy chính phủ VN đang làm.

5 Khuếch tán ứng dụng công nghệ Định viết tiếp dữ liệu, công nghệ này nọ nhưng nhân tiện bạn Hiếu Nguyễn có nói là việc ...
23/06/2024

5 Khuếch tán ứng dụng công nghệ

Định viết tiếp dữ liệu, công nghệ này nọ nhưng nhân tiện bạn Hiếu Nguyễn có nói là việc đào tạo người làm công nghệ chắc còn lâu hay bạn Duy nhận định là tất cả còn rất sơ khai, xây dựng đi sau các ngành khác nhưng có được lợi thế là học hỏi. Nên thiết nghĩ nên viết một chút về sự lan truyền và khuếch tán đổi mới. Cái này là nhập môn của các bạn làm marketing hoặc công nghệ nhưng có thể hơi lạ đối với dân kỹ thuật xây dựng nên nói một để nếu các bạn là người chịu trách nhiệm triển khai thì có ý thức hơn về mặt xã hội của việc triển khai công nghệ.

Lý thuyết về khuếch tán đổi mới (diffusion of innovation theory) phác họa tiến trình mà các công nghệ hoặc ý tưởng mới lan truyền trong một cộng đồng, xã hội. Có nhiều lý thuyết khuếch tán đổi mới nhưng nỗi tiếng và được tham khảo nhiều là của Everett M.Rogers, Rogers phát triển mô hình của mình từ những năm 60 cho đến lúc ông mất năm 2004, hơn 40 năm, Kính phục - Chapeau bas!.

Rogers giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận hoặc từ chối một sáng kiến/công nghệ và mô hình hóa quá trình này thông qua một đường cong hình chữ S. Dưới đây mình xin lược lại một số ý chính có liên quan đến xây dựng, có thể áp dụng cho cá nhân hoặc công ty.

5.1 Các nhóm tiếp cận sự đổi mới
Trước hết là phân nhóm Người Dùng / Công ty. Rogers chia những người dùng thành năm nhóm chính dựa trên thời gian họ chấp nhận một sáng kiến mới theo đường cong S.

1. Nhóm Sáng tạo (Innovators)
Là những người/công ty đầu tiên thử nghiệm sáng kiến mới. Sẵn lòng chấp nhận rủi ro để có sự hiểu biết sâu sắc về công nghệ mới. Họ xem việc thất bại trong công nghệ là chuyện bình thường và có nguồn tài chính đủ mạnh giúp hấp thu những thất bại này.
Nhóm này chiếm khoảng 2.5% cộng đồng.

Trong xây dựng thì có thể minh họa là các công ty to có ngân sách R&D hoặc các ông kẹ àm phần mêm như Autodesk, Trimble…

2. Nhóm Chấp Nhận Sớm (Early Adopters) hoặc là người dùng đầu tiên
Là nhóm có mức độ dẫn dắt dư luận cao, lãnh đạo tư duy và có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng. Về cơ bản thì họ cũng có khả năng thanh khoản cao và thường cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chấp nhận một sáng kiến mới. Họ chấp nhận đổi mới một cách khôn ngoan để giúp họ duy trì vị trí truyền thông trung tâm trong cộng đồng.
Nhóm này chiếm khoảng 13.5% dân số.

Ví dụ dễ nhất là các công ty ở Việt Nam như Hòa Bình, Coteccons hay các công ty xây dựng thành lập phòng BIM từ thủa BIM còn rất ít được nói đến ở Viet Nam. Có thể nói là họ nhanh chóng nhận ra lợi ích của BIM và áp dụng nó vào các dự án của họ, từ đó ảnh hưởng đến quan điểm của những người khác trong ngành. Họ có tiền và chấp nhận tiêu khá nhiều vào BIM để duy trì vị trí dẫn đầu công nghệ cũng như truyền thông.

Hay về mặt cá nhân tiêu dùng thì đấy là các bạn xếp hàng từ lúc nữa đên để có được chiếu iPhone đời mới nhất, cho dù các bạn ấy biết là chỉ 2-3 ngày sau thì mẫu iPhone cũng sẽ bán đầy trong store. Đấy là Apple marketing vào nhóm người chấp nhận sớm 😊 muốn có spotlight trong cộng đồng của họ.

3. Nhóm Đa Số Chấp Nhận Sớm (Early Majority):
Đây là nhóm chấp nhận sáng kiến/công nghệ mới trước khi nó trở nên phổ biến, sau khi đã chứng kiến nhiều kinh nghiệm thương đau nhưng có giá trị của Nhóm Chấp Nhận Sớm. Nhóm này thận trọng hơn, thường đòi hỏi sự đảm bảo và tham khảo ý kiến từ những người chấp nhận trước đó.

Nhóm này chiếm khoảng 34% cộng đồng

Nhóm này có thể là các văn phòng tư vấn BIM, các startup nhỏ, hay các bạn chuyển ngành từ KS, KTS sang quản lý BIM… là các bạn ít tiềm lực tài chính hơn, sự thành bại trong việc ứng dụng cộng nghệ ảnh hưởng nhiều đến công ty và sự nghiệp.

4. Late Majority (Đa Số Chấp Nhận Muộn):
Là nhóm chấp nhận sáng kiến mới sau khi đã có sự phổ biến rộng rãi và chứng minh thực tế. Thường là nhóm cẩn trọng, có mức độ hoài nghi cao với đổi mới và ít chấp nhận rủi ro. Nhóm này thường bị áp lực từ môi trường xung quanh để chấp nhận áp dụng.
Chiếm khoảng 34% cộng đồng.

Ví dụ đây là các đơn vị chỉ bắt đầu chuẩn bị hạ tầng, con người một khi bị chính phủ bắt buộc áp dụng BIM. Nói chung đấy là các bạn mà dân dã gọi là “khôn như bá thì quê tôi đầy 😊.

5. Nhóm Lỗi Lạc (Laggards) tức là Lỗi thời và Lạc hậu :
Là nhóm cuối cùng chấp nhận sáng kiến mới, thường chỉ khi các lựa chọn khác đã không còn. Họ thường có xu hướng tập trung vào “truyền thống”, thậm chí bảo thủ, ác cảm và chống lại sự thay đổi.
May mà nhóm này chiếm khoảng 16% cộng đồng và mình cũng không có ví dụ minh họa.

Đấy, chính vì mỗi nhóm có background & cách tiếp nhận cái mới khác nhau, nên nếu bạn là người chịu trách nhiệm triển khai công nghệ, bạn cần phải có cách tiếp cận khác nhau với mỗi nhóm người trong đơn vị của mình.

5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lan truyền
Bên cạnh việc phân nhóm ứng xửa với sự đổi mới, Rogers đề cập đến yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ và mức độ lan truyền của một sáng kiến, bao gồm:

• Ưu Thế Tương Đối (Relative Advantage): Bạn phải chứng minh được sáng kiến /công nghệ mới là tốt hơn so với các lựa chọn hiện có.

Ví dụ bạn có thể so sánh là so với thiết kế 2D, bạn mất nhiều thời gian đối chiếu mặt cắt, mặt bằng với mặt đứng trong khi việc này là tự động với thiết kế 3D. thay vì phải duyệt mấy chục bản vẽ giấy, đối chiếu qua lại thì chỉ cần xoay xoay nmô hình 3D là xong…

• Tương Thích (Compatibility): Mức độ phù hợp của sáng kiến/cộng nghệ mới với các giá trị, kinh nghiệm và nhu cầu của người dùng hiện tại và tiềm năng.

Ví dụ khi thuyết phục người khá ứng dụng BIM, bạn nên nói là công việc hiện tại của bạn không có thay đổi gì hết. Sản phẩm của bạn như xưa nhưng cách làm của bạn hiện đại và hiệu quả hơn. Nói chung, BIM tương thích với công việc hiện tại của bạn.

Chứ bạn phủ đầu luôn là người ta đang làm sai, phải làm BIM như dzầy mới đúng thì bạn biết kết quả là thế nào rồi đấy 😊.

• Độ Phức Tạp (Complexity): Mức độ dễ dàng hoặc khó khăn khi hiểu và sử dụng sáng kiến/công nghệ mới.

Tương tự như tính tương thích, bạn đưa người ta vào một thế giới đầy thuật ngữ phức tạp của BIM, với các khái niệm không có hồi kết và đòi đập đi làm lại thì người ta sẽ dội ra ngay. Phải thuyết phục là ai cũng liên quan và có thể làm BIM.

• Khả Năng Thử Nghiệm (Trialability): Khả năng có thể thử nghiệm sáng kiến / công nghệ mới trên trên phạm vi nhở trước khi quyết định Áp dụng trên diện rộng.

Bạn không cần ăn hết cả con voi một lúc. Chai nhỏ nó ra và triển khai các ứng dụng BIM theo thứ tự ưu tiên theo nhu cầu của đơn vị bạn. Bạn khoogn cần phải đập đi làm lại, bạn có thể sử dụng nhân sự hiện tại và áp dụng trên một vài công trình trước khi chuyển đổi cả công ty.

Đấy là là khả năng tiếp cận có thử nghiệm của BIM.

• Khả Năng Quan Sát (Observability): Mức độ Nhìn thấy kết quả của việc áp dụng sáng kiến/công nghệ mới bởi những người khác.
Ha ha, quê tôi có nhiều người theo dõi để áp dụng nhưng còn nghi ngờ lắm. Không sao, BIM nó đâu còn là bí mật công nghệ gì nữa đâu, thiên hạ áp dụng nhiều và có kết quả nhãn tiền rồi. Anh áp dụng đi chứ không thành người Lỗi Lạc đấy.

Đấy, bạn nào làm triển khai hoặc nhân viên bình thường cũng nên tìm hiểu về lý thuyết khuếch tán sáng tạo để biết cách ứng xử với những gì đang diễn ra. Biết mình thuộc nhóm nào và cần làm gì.

Trong hình ở dưới, các bạn cũng cần quan tâm đến 2 điểm là “Điểm bùng phát” (tipping point) và “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass).

Điểm bùng phát (tipping Point) là giai đoạn khi một sáng kiến hoặc công nghệ mới đạt đến một mức độ phổ biến nhất định và bắt đầu lan truyền nhanh chóng trong cộng đồng/xã hội. Đây là điểm mà sự chấp nhận và sử dụng công nghệ chuyển từ việc chỉ có một số ít người tiên phong (Innovators) và những người chấp nhận sớm (Early Adopters) sang một lượng lớn người dùng chính thống (Early Majority và Late Majority).

Tipping point thường xảy ra khi khoảng 15-20% người dùng đã chấp nhận và sử dụng công nghệ hoặc sáng kiến mới. Một khi đạt đến điểm này, công nghệ mới xem như là được chấp nhận và việc phổ biến sẽ được tăng tốc.

Điểm quan trọng thứ hai là “Điểm số lượng tới hạn” (Point of Critical mass). Đây là điểm mà sau đó, quá trình lan truyền đã trở nên tự nhiên và mạnh mẽ, tự nó duy trì chứ không cần quá nhiều nỗ lực thúc đẩy từ bên ngoài như từ các chef hay chính phủ nữa.
Điểm này thường xảy ra khi có khoảng 50% người dung. Khi số lượng người dùng đạt đến critical mass, việc tham gia áp dụng công nghệ mới trở nên gần như bắt buộc để duy trì kết nối với thị trường hay nói nôm nà là “Áp dụng hay là chết” (To be or to die), dẫn đến sự bùng nổ người dùng mới.

Thường thì có các đơn vị nghiên cứu thị trường làm công việc thống kê này để biết thị trường đang ở điểm nào. Ví dụ với việc chuyển đổi số trong xây dựng thì ở Anh hằng năm có hội NBS phải điểu tra và ra các “Digital Construction Report”. Đọc các báo cáo gần đây thì đâu đấy có 71% đơn vị bảo là đã ứng dụng BIM. Tức là thị trường đã vượt qua điểm Số lượng tới hạn hay là điểm mà “Tôi không làm gì sai nhưng không hiểu sao lại thất bại” (NOKIA CEO)

Mình không biết ở VN có đơn vị nào làm cái này không ? Nhưng ít nhất, hiểu rõ về tipping point, critical mass point, có thể giúp các nhà quản lý có các chiến lược hiệu quả để thúc đẩy sự chấp nhận và triển khai công nghệ mới như BIM, ở mức độ doanh nghiệp cũng như quốc gia. Ví dụ, việc đầu tư vào đào tạo và hỗ trợ một nhóm người dùng ban đầu có thể tạo ra một tipping point, từ đó thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi hơn trong toàn ngành. Đấy là những việc mình thấy chính phủ VN đang làm.

4.2 Cơ hội với dữ liệuHình ảnh dưới đây minh họa một chút những gì đang và sẽ xảy ra trong ngành xây dựng với tốc độ rất...
15/06/2024

4.2 Cơ hội với dữ liệu
Hình ảnh dưới đây minh họa một chút những gì đang và sẽ xảy ra trong ngành xây dựng với tốc độ rất nhanh và tạo ra rất nhiều cơ hội cho mọi người.
Số hóa Môi truwowgnf xây dựng nôm na là tạo ra các vật thể số (digital thing) của một công trình thực (physical thing) nào đó và làm cho hai thực thể này kết hợp được với nhau (cyber-phisycal system):
1. Phải có các bạn tạo ra mô hình thông tin của công trình (model data) : đây là công việc cảu các bạn làm BIM truyền thống như vẫn gọi
2. Phải thu thập dữ liệu từ công trình thực: đây là cơ hội của các bạn làm sensor, Internet vạn vật (IoT), drone UAV, tất cả các loại viễn thám…
3. Dữ liệu từ các bạn đấy cực kỳ khổng lồ mà máy tính cá nhân của an hem mình chắc chỉ nạp được 5 phút là cháy máy nên dữ liệu đấy phải được đẩy lên cloud (big data).
4. Máy tính thích những cái gì nhiều và lớn nên đây là môi trường lý tưởng để các bạn khoa học dữ liệu (data analytic) chuyển data thành thông tin biết nói. Cơ hội để AI, học máy (machine learning )
5. Có thông tin rồi thì các bạn hành nghề truyền thống sẽ dễ dàng hơn, ra quyết định dựa trên dữ liệu

Có thể với một số bạn hhũng điều trên hơi xa vời nhưng không, chỉ cần lấy một số công nghệ ra là đã có bao nhiêu việc hoặc startup đễ làm.
Hôm trước mình bảo Nhà nước bắt bộc BIM là tạo thêm nhiều cơ hội cho các bạn làm BIM, nhưng BIM chỉ là một điểm nhỏ trong bức tranh tổng thể của Số hóa Môi trường Xây dựng. Còn có nhiều nhiều cơ hội hơn nhiều
Đơn giản như point-cloud, là một trong những ứng dụng đi số hóa hiện trang môi trường xây dựng khá phổ biến. Nó tạo việc làm cho các đơn vị sản xuất máy Scan 3D như Trimble, Faro… gần hơn thì tạo không biết bao nhiêu việc làm cho các bạn mang máy đi quét. Đi quét về rồi dựng lại mô hình thông tin – Scan-to-BIM – trước đây Scan-to-BIM dựa nhiều vào nhân công nhưng bây giờ thì nhiều công nghệ cao can thiệp như xử lý ảnh, AI… Nói chung là không biết bao nhiêu là việc. Ở đay có bạn nào sống nhờ Scan-to-BIM thì làm nhân chứng để các bạn trẻ còn tin nào.

Hay khoa học dữ liệu cũng tạo không biết bao nhiêu là công việc, Data analytic, các công ty xây dựng hoặc văn phòng tư vấn lơn bây giờ đều có một số bạn làm Data Analytic, các bạn này hoặc là dân toán chuyển sang phân tích dữ liệu cho xây dựng hoặc cũng có nhiều bạn làm xây dựng chuyển sang làm data. Có bạn nào làm cái này đi qua đây không ?

Mình vọc máy tính từ lúc mới có màn hình trắng đen, dĩa mềm 360kB 😊 đến lúc dùng autocad 14 để vẽ thuê kiếm tiến, cho đến bây giờ vọc kha nhiều phần mềm, công nghệ nhưng chưa bao giờ thấy nhành xây dựng đứng trước một thời kỳ nhộn nhịp công nghệ như hiện tại.

Đấy, “Dữ liệu quan trọng như beton và sắt thép” nhưng tiếc quá, hiện tại nhiều dữ liệu của ngành xây dựng không khai thá...
15/06/2024

Đấy, “Dữ liệu quan trọng như beton và sắt thép” nhưng tiếc quá, hiện tại nhiều dữ liệu của ngành xây dựng không khai thác được nên rất lãng phí cả trong giai đoạn thiết kế, thi công lẫn vận hành. Đặc biệt là, nếu cứ tiếp tục với quy trình, thủ tục giấy thì không bao giờ có thể xây dựng được “Môi trường Xây dựng Số (Digital Built Environment)”.

Vậy có cách nào hay hơn không ? Có. Đó là chuyển đổi sang dữ liệu số (digital data).
Dân xây dựng làm việc với dữ liệu xây dựng nhưng không phải là các chuyên gia về dữ liệu nên để dễ hiểu, hiện người ta hay phân dữ liệu theo kiểu cho dân không chuyên:
• Dự liệu chữ số (alpha-numeric data) : văn bản hoặc số có cấu trúc trong các bản biểu và trường (ví dụ dữ liệu sử dụng trong excel…)
• Tài liệu (document) : dữ liệu phi cấu trúc như hình ảnh, bản vẽ
• Mô hình thông tin BIM (model data): loại này là đặc sản riêng của dân xây dựng và cơ khí sản xuất, đó là mô hình các đối tượng mang thông tin hình học và phi hình học có tham chiếu tọa độ, đấy, an hem xây dựng có may mắn được tạo và xoay xoay các mô hình 😊
• Dữ liệu không gian địa lý (geospatial data) : dạng dữ liệu hình học có cấu trúc được định vị theo hệ thống thông tin địa lý (GIS), ví dụ các hình học Điểm, đường, đa giác,.. trong bản cad hoặc revit mà tag được tọa độ X, Y.

Trong quyển “BIM cho người mới học” có đoạn mình nói là các bạn học trắc địa hồi trước không phải là ngành hấp dẫn lắm, niềm vui duy nhất học trắc địa là kéo máy đi ngắm gái, nhưng mà với sự phát triển của Môi trường Xây dựng Số thì các bạn làm Geospatial hiện tại lại là một trong những nghề thời thượng nhất.

Ví dụ đơn giản là khi thiết kế một công trình sử dụng Mộ hình thông tin BIM, số lượng viên gạch giá cả có thể trích xuất được (Numeric data), kỹ sư và kiến trúc sư yêu cầu phải có chỉ dẫn kỹ thuật cho loại gạch được sử dụng (document) và công nhân cần biết viên gạch nằm ở đâu (dữ liệu không gian). Đấy viên gạch cần có bản sao số với đầy đủ dữ liệu

Bốn loại dữ liệu được minh họa lại như cái hình dưới đấy, mình chôm từ cuốn “Data and the Built Environment A Practical Guide to Building a Better World Using Data, Ian ordon · Neil Thompson”. Nhìn vào đấy thì các bạn làm trong ngành đều nhận thấy là mình đã đang và tao ra các loại dữ liệu cho môi trường xây dựng. Vấn đề là làm sao hệ thống hóa, quản lý nó để biến nó thành những cái gì gì đấy có giá trị hơn.

4.1 Dư liệu trong ngành xây dựngHôm trước nói chuyện chung chung về dữ liệu – thông tin - kiến thức và Trí tuệ. Ở thời b...
15/06/2024

4.1 Dư liệu trong ngành xây dựng

Hôm trước nói chuyện chung chung về dữ liệu – thông tin - kiến thức và Trí tuệ. Ở thời buổi hiện tại thì Dữ liệu, Thông tin và thậm chí Kiến thức ở khắp nơi và nhiều hơn nấm. Vấn đề là làm sao đủ Trí tuệ để sử dụng, khai thác nó thành sản phẩm mang lại lợi ích và giá trị.

Ví dụ về chuyện thừa thông tin hay dữ liệu bừa bộn trong ngành xây dựng là các bộ hồ sơ hoàn công bằng giấy 😊. Theo luật định ở Việt Nam hay tất cả các nước khác, mỗi tòa nhà, mỗi công trình đều phải có một hồ sơ xây dựng, chứa thông tin về quá trình xây dựng cũng như cách bảo dưỡng, vận hành an toàn suốt quãng đời của nó. Tiếc là hiện tại tất cả hồ sơ, dữ liệu đấy phần lớn là trên giấy, nếu có bằng điện tử thì cũng rất tĩnh định, ít kết nối.

Phải khẳng định là việc triển khai dự án xây dựng dựa trên quy trình giấy không có gì sai cả, nó vẫn được tiến hành từ nhiều trăm năm nay. Tiếc là không có gì sai không có nghĩa là không có nhiều khuyết điểm, vị dụ như, theo thống kê ở Anh thì việc làm bằng giấy như hiện tại dẫn đến :
• 30% phải thi công lại trên công trường
• Hiệu suất sử dụng lao động thấp 40-60%
• Lãng phí ít nhất 10% vật liệu
• Khoản chi ngoài dự toán tăng 3-6%
• Lãng phí thời gian thu thập lại dữ liệu trong quá trình vận hành/bảo trì công trình

21/03/2019

Digital Twins Executive Interview - Greg Bentley of Bentley Systems - ARC Industry Forum 2019. Digital transformation, drones, digital twins, digital infrast...

Hi cả nhà,Thay mặt thành viên nhóm "Thư Viện BIM", Hưng xin chúc tất cả các Anh, Chị, Em và Gia Đình có một năm thật Mạn...
04/02/2019

Hi cả nhà,
Thay mặt thành viên nhóm "Thư Viện BIM", Hưng xin chúc tất cả các Anh, Chị, Em và Gia Đình có một năm thật Mạnh Khỏe, luôn luôn Vui Vẻ, Hạnh Phúc và Thành Công.

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thuvienbim posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share