Trị Bệnh Tim Mạch Bằng Thảo Dược Gia Truyền

Trị Bệnh Tim Mạch Bằng Thảo Dược Gia Truyền Bài thuốc nam gia truyền đặc trị bệnh tim mạch hiệu quả tốt nhất, không gây tác dụng phụ. Tìm hiểu tại: www.DieuTriBenhTimMach.com

Bài thuốc gia truyền đặc trị bệnh tim mạch này được bào chế từ các loại thảo dược thiên nhiên tuyệt đối không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào.

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ THƯỜNG GẶP Ở BỆNH TIM MẠCHBệnh tim mạch đã và đang lá vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới...
31/10/2015

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ THƯỜNG GẶP Ở BỆNH TIM MẠCH

Bệnh tim mạch đã và đang lá vấn đề sức khỏe rất được quan tâm trên thế giới, tỉ lệ tử vong và di chứng do bệnh tim mạch vẫn chiếm hàng đầu và đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng ở các nước đang phát triển.

Theo Trung tâm thống kê sức khỏe quốc gia Hoa Kì, hơn 68 triệu người dân ở nước này đang có ít nhất một rối loạn về tim mạch và rất nhiều người khác được cho là có nguy cơ mắc một trong những bệnh lý nguy hiểm này.

Tại Việt Nam, điều tra gần đây có tới trên 20% số người lớn bị tăng huyết áp Kiểm soát các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch là vô cùng quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tỉ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch.

Thế nào là yếu tố nguy cơ? Yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch là yếu tố liên quan tới sự gia tằng khả năng mắc bệnh tim mạch. Vậy, yếu tố nguy cơ của tim mạch bao gồm. Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được và các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đỏi được bao gồm những yếu tố: “Tuổi” hơn nửa số người bịu đột quỵ tim mạch và tới 4/5 số người bị chết vì đột quỵ có tuổi cao hơn 65. “Giới” đan ông có nguy cơ mắc bệnh tim mạch vành, đột quỵ và các bệnh tim mạch khác cao hơn so với nữ giới, hiện nay tuổi thọ của người phụ nư nói chung so hơn nam giới trung bình 4- 6 năm.

“Yếu tố di truyền”nếu trong gia đình bạn có người mắc bệnh tim mạch khi còn trẻ (nam dưới 55 tuổi và nữ dưới 65 tuổi), bạn phải đặc biệt lưu ý tới việc làm giảm ảnh hưởng của bất kì yếu tố nguy cơ nào có thể kiểm soát được và phải cảnh giác hơn để tránh được cơn đau tim hoặc đột quỵ. Các yếu tố có thể thay đỏi được: “tăng huyết áp” được xác định nếu con số huyết áp luôn vượt quá 140/90mmHg.

Rất nhiều nghiên cứu cho thấy, điều trị thành công tăng huyết áp làm giảm rõ rệt các nguy cơ của nó. May mắn thay, hiện tại chúng ta đang có rất nhiều thuốc hạ huyết áp tốt. “Đái tháo đường và kháng insulin” Những người mắc bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường xuất hiện sau 40 tuổi, có tỉ lệ mắc bệnh mạch bành đột quỵ cao hơn người bình thường.

Bệnh cảnh kháng insulin trong máu có thể gây tăng huyết áp và tăng lắng đọng, cholesterol vào mảng xơ vữa động mạch. Hậu quả là thúc đẩy quá trinh xơ vữa và các biến chứng của nớ.


GIẢM NGUY CƠ SUY TIM DO THAY ĐỔI CÁCH SỐNG GNO - Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nếu thường xuyên đi bộ, vận động vừ...
29/10/2015

GIẢM NGUY CƠ SUY TIM DO THAY ĐỔI CÁCH SỐNG

GNO - Người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) nếu thường xuyên đi bộ, vận động vừa phải trong thời gian rảnh rỗi, uống ít bia rượu, không thuốc lá và không bị béo phì thì sẽ giảm được một nửa nguy cơ suy tim, so với người có lối sống không lành mạnh - theo một nghiên cứu gần đây.

Kết quả nghiên cứu này khẳng định: Bằng lối sống khoa học và lành mạnh, một nửa nguy cơ suy tim được cắt giảm - theo tác giả Liana Del Gobbo, Đại học Tufts tại Boston (Massachusetts).

Cụ thể, đi bộ và các hoạt động giúp đốt calori như làm vườn, chăm sóc nhà cửa, các hình thức vận động thể chất ngoài trời,… khoảng 30 phút mỗi ngày đều tốt cho sức khỏe tim mạch.

Theo báo cáo của Trung tâm Phòng chống và Ngăn ngừa Bệnh tật Hoa Kỳ, khoảng hơn 5 triệu người dân Hoa Kỳ bị suy tim. Đó là chứng tim không bơm đủ máu và oxy đến các phần còn lại trong cơ thể. Chứng suy tim có thể được điều trị bằng thuốc, chế độ ăn ít muối, tăng cường hoạt động thể chất. Tuy nhiên, có một nửa số người được chẩn đoán suy tim tử vong trong thời gian 5 năm sau đó.

Bác sĩ David J. Maron, giám đốc Trung tâm Ngăn ngừa Bệnh Tim mạch, Đại học Y khoa Stanford (California) khẳng định: Lối sống lành mạnh, thường xuyên vận động là cách tốt nhất để phòng chống các bệnh tim mạch, trong đó có chứng suy tim. Hơn nữa, sống lành mạnh sẽ giúp ngăn ngừa được nhiều căn bệnh tốn kém chi phí điều trị khác nữa, chứ không chỉ bệnh suy tim.

THỜI TIẾT NẮNG NÓNG ẢNH HƯỞNG GÌ TỚI BỆNH TIM ?Trong những ngày nắng nóng gay gắt, nhiệt độ ngoài trời dao động 34 đến 4...
27/10/2015

THỜI TIẾT NẮNG NÓNG ẢNH HƯỞNG GÌ TỚI BỆNH TIM ?

Trong những ngày nắng nóng gay gắt, nhiệt độ ngoài trời dao động 34 đến 40 độ C đã ảnh hướng rất lớn đến sức khoẻ mọi người, nhất là đối với người già, trẻ nhỏ và đặc biệt là những người bị bệnh tim mạch.

Vậy người bệnh tim mạch bị ảnh hưởng thế nào trong thời tiết nắng nóng?

Để thích ứng với thời tiết nóng nực, cơ thể điều chỉnh bằng cách tăng tiết mồ hôi và giãn mạch máu ngoại biên. Khi tiết nhiều mồ hôi cơ thể sẽ mất nước, giảm thể tích máu lưu thông, trong khi đó tim vẫn phải co bóp để đảm bảo bơm đủ lượng máu đi khắp cơ thể.

Do thể tích máu giảm nên tim phải làm việc nhiều hơn, tăng sức co bóp và tăng số tim trong một phút. Mặt khác khi vận động, mồ hôi ra nhiều, mất dịch nhiều, các cơ vận động đòi hỏi cần được cung cấp nhiều máu hơn.

Khi mất quá nhiều dịch, thân nhiệt tăng lên, các cơ quan bị tổn thương, nhất là hệ thần kinh và tim mạch: người bệnh rất mệt mỏi, mất tỉnh táo, thiếu tập trung, tim đập nhanh, huyết áp tăng.

Đối với một số bệnh tim mạch như: suy tim, bệnh mạch vành, khi nắng nóng tim phải gắng sức co bóp, làm tình trạng suy tim tăng lên, có thể gây tử vong. Mặt khác, tim gắng sức sẽ tăng nhu cầu ôxy của tim nên dễ dẫn đến thiếu máu cơ tim cục bộ gây cơn đau thắt ngực, mệt, khó thở, nặng hơn là nhồi máu cơ tim.

Những người đã đặt stent mạch vành hoặc van tim cơ học, việc mất nước khiến máu bị cô đặc, dễ tạo cục máu đông gây tắc stent hoặc kẹt van tim là những tình huống hết sức nguy hiểm.

NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM Ở NGƯỜI SUY THẬN MẠNNhững người bị suy thận mạn tính (CKD) có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim tươ...
26/10/2015

NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM Ở NGƯỜI SUY THẬN MẠN

Những người bị suy thận mạn tính (CKD) có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim tương tự như những người đã từng bị triệu chứng này. Đây là kết quả nghiên cứu công bố ngày 19/6 trên tờ The Lancet của Anh.

Nghiên cứu được thực hiện với gần 1,3 triệu người được nhận vào các bệnh viện của Canada trong vòng hai năm sau khi họ bị nhồi máu cơ tim, cho thấy nếu những người bị bệnh CKD hoặc tiểu đường có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tương tự như những người đã từng bị căn bệnh này trong quá khứ thì tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau khi họ được nhập viện sẽ tăng cao hơn.

Theo tiến sỹ Marcello Tonelli thuộc Trường đại học Alberta, “những nghiên cứu của chúng tôi đã gợi ý rằng người ta có thể coi bệnh suy thận mạn tính là một nguy cơ tương tự như nguy cơ bị cơn nhồi máu cơ tim đầu tiên”.

Nghiên cứu trên cho phép những bệnh nhân có nguy cơ cao bị nhồi máu cơ tim được sử dụng các loại thuốc thuộc nhóm statin để giảm lượng cholesterol xấu trong máu./.

TIM MẠCH VÀ THAI NGHÉN :Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ thay đổi nhiều về tâm lý, giải phẫu, sinh lý, huy...
23/10/2015

TIM MẠCH VÀ THAI NGHÉN :

Trong quá trình mang thai, cơ thể người phụ nữ thay đổi nhiều về tâm lý, giải phẫu, sinh lý, huyết học, tuần hoàn… Những người khỏe mạnh hệ thống tim mạch thích ứng được với những thay đổi đó, nhưng với những sản phụ có bệnh tim mạch thì thai nghén trở thành gánh nặng và làm cho các bệnh lý tim mạch trở nên nặng hơn, dễ xảy ra tai biến và biến chứng cho mẹ và thai nhi.

Vì thế, việc theo dõi, điều trị, tiên lượng và quyết định các can thiệp đối với bệnh nhân tim mạch đang mang thai rất quan trọng.
Các bệnh van tim và thai nghén

Khoảng 1% số phụ nữ mang thai có các bệnh lý van tim và đi kèm với tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng nguy hiểm đối với mẹ và thai nhi. Các bệnh van tim hay gặp gồm:

Hẹp van hai lá: Bệnh hẹp van hai lá là bệnh tim rất đáng quan tâm ở phụ nữ có thai vì khởi đầu người bệnh thường không có triệu chứng nhưng khi mang thai có thể diễn biến xấu đi do nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim hoặc do nhu cầu cung cấp máu tăng lên dẫn đến các biến chứng thường gặp là phù phổi cấp, nếu không được điều trị dễ dẫn đến tử vong.

Vì thế sản phụ có bệnh hẹp van hai lá nặng cần được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch và thường điều trị nong van hoặc phẫu thuật sửa/thay van hai lá trước khi mang thai.

Hở van hai lá: Nguyên nhân thường do di chứng thấp tim hoặc sa van hai lá. Sản phụ thường dung nạp tốt nên đôi khi quá trình mang thai vẫn diễn ra bình thường (thường gặp ở sản phụ chức năng tim còn bù trừ tốt), tuy nhiên ở những sản phụ có hở van hai lá nặng, kèm theo chức năng tim đã suy giảm thì quá trình thai
nghén dễ có các biến chứng khi sinh nở.

Hẹp van động mạch chủ: Nguyên nhân thường gặp là bẩm sinh hoặc do di chứng của thấp tim. Nếu hẹp van động mạch chủ nặng hoặc đã có triệu chứng như khó thở, đau ngực thì cần khuyên người bệnh không nên có thai cho tới khi được phẫu thuật. Nếu đã mang thai và xuất hiện các triệu chứng sớm thì nên cân nhắc đình chỉ thai nghén.

Hở van động mạch chủ: Sản phụ thường dung nạp tốt khi chức năng tim còn trong giới hạn bình thường. Cần lưu ý một số thuốc trong quá trình thai nghén như thuốc “ức chế men chuyển” (loại thuốc hay dùng điều trị trong hở van động mạch chủ) có nguy cơ dị tật với thai nhi, nên cần thay thế bằng nhóm thuốc khác.

Van cơ học: Những sản phụ có mang van tim nhân tạo (được thay van nhân tạo cơ học trước khi mang thai) cần dùng thuốc chống đông suốt đời và phải tiếp tục trong suốt thời kỳ mang thai. Tuy nhiên, các thuốc chống đông như wafarin (Sintrom) và các dẫn xuất khác có thể dẫn đến bệnh lý thai nhi trong thời gian từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12, đồng thời làm tăng nguy cơ sảy thai,
thai lưu và xuất huyết nội sọ thai.

Vì thế, với người bệnh mang van tim cơ học, việc mang thai sẽ dẫn đến nguy cơ lớn cho cả mẹ và thai nhi. Nếu vẫn tiếp tục mang thai, thì trước khi sinh cần phải dừng wafarin và thay bằng thuốc chống đông khác là heparin trong 10 ngày trước khi sinh. Trong khi sinh thì dừng dùng heparin và dùng lại wafarin từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 sau khi sinh.

Bệnh tim thiếu máu cục bộ

Các yếu tố nguy cơ gây nhồi máu cơ tim ở phụ nữ có thai cũng tương tự như người không có thai. Nguy cơ nhồi máu sẽ tăng lên ở trường hợp đa thai, người hút thuốc lá, bệnh nhân đái tháo đường, béo phì, tăng huyết áp và tăng mỡ máu. Nhồi máu cơ tim hay gặp nhất trong 3 tháng cuối của quá trình mang thai và tử vong của mẹ khoảng 20%. Về điều trị cũng tương tự với người không có thai.

Rối loạn nhịp và thai nghén
Ngoại tâm thu nhĩ và thất rất phổ biến trong thời kỳ mang thai. Nhiều sản phụ có cảm giác tim đập mạnh trong lồng ngực và thấy có khoảng hẫng nhịp sau nhịp ngoại tâm thu. Rối loạn nhịp nhanh cũng phổ biến trong thai kỳ. Khoảng 20% trường hợp phụ nữ có cơn nhịp nhanh trên thất từ trước sẽ tái phát trong thời kỳ có thai. Vì thế, các sản phụ cần được theo dõi về tim mạch trong suốt quá trình mang thai.

Các bệnh tim ít gặp khác trong quá trình thai nghén như: Tăng áp lực động mạch phổi, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn, bệnh cơ tim chu sản (một loại bệnh lý đặc biệt có liên quan quá trình thai sản)… Đối với những sản phụ nói chung, đặc biệt các sản phụ có bệnh tim nói riêng cần được theo dõi và quản lý thai nghén định kỳ theo hướng dẫn của nhân viên y tế.

Các sản phụ có bệnh lý tim mạch kèm theo, cần được thăm khám và kết hợp điều trị của bác sĩ chuyên khoa tim mạch nhằm giảm các nguy cơ biến chứng và tai biến trong thai kỳ, đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và em bé.

BỆNH VIÊM MẠCH Viêm mạch là tình trạng viêm các mạch máu. Viêm mạch gây ra những thay đổi trong thành của các mạch máu, ...
22/10/2015

BỆNH VIÊM MẠCH

Viêm mạch là tình trạng viêm các mạch máu. Viêm mạch gây ra những thay đổi trong thành của các mạch máu, bao gồm dày lên, suy yếu, thu hẹp và sẹo.

Có rất nhiều loại viêm mạch. Một số hình thức cấp tính trong khi những người khác mãn tính. Viêm mạch, còn được gọi là angiitis và bệnh viêm động mạch, có thể rất nghiêm trọng do các mô và cơ quan được cung cấp bởi các mạch máu viêm không nhận được đủ máu. Tình trạng thiếu máu này có thể dẫn đến tổn thương mô và cơ quan, thậm chí tử vong.

Viêm mạch có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai, mặc dù một số loại viêm mạch phổ biến hơn giữa các nhóm nhất định. Một số hình thức của viêm mạch tự cải thiện, nhưng những người khác đòi hỏi phải điều trị - thường bao gồm dùng thuốc một thời gian dài.

==> Các triệu chứng :

Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến cho hầu hết các loại viêm mạch

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm mạch khác nhau tùy thuộc vào mạch máu và hậu quả, hệ thống cơ quan bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, dấu hiệu và triệu chứng chung mà nhiều người trải nghiệm viêm mạch bao gồm:

- Sốt.

- Mệt mỏi.

- Giảm cân.

- Đau cơ và khớp.

- Mất cảm giác ngon miệng.

- Vấn đề thần kinh, chẳng hạn như tê hoặc yếu.

==> Các dấu hiệu và triệu chứng cho một số loại viêm mạch

Hội chứng Behcet. Tình trạng này gây ra viêm động mạch và tĩnh mạch, và thường xuất hiện ở độ tuổi 20 và 30. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm viêm loét miệng và bộ phận sinh dục, viêm mắt, tổn thương giống như mụn trứng cá trên da.

Bệnh Buerger. Tình trạng này gây ra viêm và cục máu đông trong mạch máu ở tứ chi. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm cơn đau ở tay, cánh tay, bàn chân và chân, vết loét trên ngón tay và ngón chân. Rối loạn này liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá.

Hội chứng Churg-Strauss. Còn được gọi là u hạt dị ứng và angiitis dị ứng, phổ biến nhất ảnh hưởng đến các mạch máu trong phổi. Nó thường liên quan với bệnh hen suyễn.

Viêm mạch Cryoglobulinemia. Tình trạng này thường kết hợp với nhiễm viêm gan C. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm phát ban được gọi là ban xuất huyết chi dưới, viêm khớp, suy nhược và thiệt hại thần kinh (neuropathy).

Viêm động mạch tế bào khổng lồ. Thường xảy ra ở những người lớn tuổi hơn 50, là tình trạng viêm các động mạch trong đầu, đặc biệt là thái dương. Bệnh viêm động mạch tế bào khổng lồ có thể gây ra nhức đầu, đau da đầu, đau quai hàm trong khi hạn chế nhai, mắt bị mờ hoặc nhìn đôi, và thậm chí mù lòa.

Động mạch tế bào khổng lồ thường xuyên liên kết với một dạng khác của tình trạng viêm được gọi là đau đa cơ do thấp khớp (PMR). PMR gây ra đau và viêm các khớp lớn, chẳng hạn như vai và hông. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm đau và cứng khớp hông, đùi, vai, cánh tay trên và cổ.

Ban xuất huyết Henoch-Schonlein. Tình trạng này được gây ra bởi viêm các mạch máu của da, khớp, ruột và thận. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm đau bụng, tiểu ra máu, đau khớp, phát ban với ban xuất huyết trên mông, chân và bàn chân. Henoch Schonlein thường ảnh hưởng đến trẻ em, nhưng nó có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

Viêm mạch quá mẫn. Dấu hiệu chính của viêm mạch quá mẫn là những đốm đỏ trên da. Nó có thể được kích hoạt bởi dị ứng.

Bệnh Kawasaki. Còn được gọi là hội chứng hạch bạch huyết niêm mạc, tình trạng này thường ảnh hưởng đến trẻ em dưới 5 tuổi. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm sốt, phát ban da và viêm mắt.

Viêm mạch máu nhỏ. Dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các mạch máu nhỏ trong thận, phổi và da. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm các tổn thương da, sốt, sụt cân không chủ ý, viêm cầu thận - viêm các mạch máu nhỏ trong thận và tổn thương thần kinh.

Viêm mạch máu trung bình. Dạng viêm mạch ảnh hưởng đến các mạch máu có kích thước trung bình ở nhiều nơi khác nhau của cơ thể, bao gồm da, tim, thận, thần kinh ngoại vi, cơ và ruột. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm phát ban được gọi là ban xuất huyết, loét da, đau cơ và khớp, đau bụng, và các vấn đề về thận.

Bệnh viêm động mạch Takayasu. Đây là dạng viêm mạch bao gồm các động mạch lớn nhất trong cơ thể, bao gồm cả động mạch chủ, và thường xảy ra ở phụ nữ trẻ. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm cảm giác tê hoặc lạnh các chi, mạch giảm hoặc vắng mặt, huyết áp cao, đau đầu, rối loạn thị giác.

U hạt polyangiitis (Wegener). Trước đây được gọi là u hạt Wegener, u hạt polyangiitis là nguyên nhân gây viêm các mạch máu ở mũi, xoang, họng, phổi và thận. Các dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm nghẹt mũi, viêm xoang mãn tính và chảy máu cam. Thận thường bị ảnh hưởng, mặc dù hầu hết sẽ không có bất kỳ triệu chứng đáng chú ý cho đến khi thiệt hại nặng hơn.

Hẹn với bác sĩ nếu có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng lo lắng.

==> Nguyên nhân

Viêm mạch xảy ra khi hệ thống miễn dịch nhầm lẫn khi thấy các tế bào mạch máu như ngoại lai. Hệ thống miễn dịch sau đó tấn công những tế bào như thể chúng là một kẻ xâm lược, chẳng hạn như là vi khuẩn hoặc vi rút. Không phải luôn luôn rõ lý do tại sao điều này xảy ra, nhưng bị nhiễm trùng, một số bệnh ung thư, rối loạn hệ thống miễn dịch nhất định hoặc phản ứng dị ứng có thể như là kích hoạt.

Các mạch máu bị ảnh hưởng bởi viêm mạch bị viêm, có thể làm lớp thành mạch máu dày lên. Mạch máu này thu hẹp, làm giảm lượng máu và chất dinh dưỡng quan trọng và oxy đến các mô của cơ thể. Trong một số trường hợp, một cục máu đông có thể hình thành trong mạch máu bị ảnh hưởng, cản trở lưu lượng máu. Đôi khi thay vì trở nên hẹp hơn, một mạch máu có thể suy yếu và tạo chứng phình động mạch, một điều kiện có khả năng đe dọa tính mạng.

Viêm mạch không rõ nguyên nhân (viêm mạch tiên phát)

Đối với nhiều hình thức của nó, nguyên nhân của viêm mạch là không biết. Những hình thức của viêm mạch này được gọi là viêm mạch tiên phát.

Viêm mạch xảy ra do một căn bệnh (viêm mạch thứ phát)

Các hình thức của viêm mạch do một bệnh cơ bản là nguyên nhân được gọi là viêm mạch thứ phát. Ví dụ về các nguyên nhân gây viêm mạch thứ phát bao gồm:

Nhiễm trùng mạch máu. Một số xảy ra trong phản ứng với nhiễm trùng. Ví dụ, hầu hết các trường hợp lắng đọng protenin bất thường là kết quả của sự lây nhiễm virus viêm gan C, và nhiễm virus viêm gan B gây ra một số trường hợp viêm mach trung bình.

Bệnh hệ thống miễn dịch. Viêm mạch cũng có thể xảy ra như là kết quả của một số bệnh của hệ thống miễn dịch, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp, lupus, xơ cứng bì.

Phản ứng dị ứng. Đôi khi phản ứng dị ứng với thuốc có thể gây viêm mạch.

Bệnh ung thư máu. Tế bào ung thư có ảnh hưởng đến các tế bào máu, bao gồm cả bệnh bạch cầu và u lympho, có thể gây viêm mạch

BỆNH TIM Ở NGƯỜI CAO TUỔI Tất cả các lời khuyên nhằm hạn chế bệnh tim do xơ vữa mạch máu ở người trẻ cũng đều có thể ứng...
19/10/2015

BỆNH TIM Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Tất cả các lời khuyên nhằm hạn chế bệnh tim do xơ vữa mạch máu ở người trẻ cũng đều có thể ứng dụng cho người già. Đó là nên bỏ hút thuốc lá, tập thể dục nhẹ nhàng và đều đặn mỗi ngày, ăn uống điều độ để tránh bị béo phì.

Lão hóa là một quá trình tự nhiên xảy ra cho tất cả các cơ quan trong cơ thể. Quá trình này khởi đầu ngay từ khi chúng ta được sinh ra và diễn tiến ngày một nhanh khi tuổi càng cao. Những biến đổi do lão hóa ở hệ tim mạch (đặc biệt là xơ vữa động mạch) là nguyên nhân góp phần gây ra các bệnh lý tim mạch ở người cao tuổi.

Mạch máu của người trẻ bình thường mềm mại, có tính đàn hồi và co giãn, nhờ vậy khi tim co bóp sẽ đẩy máu vào mạch máu dễ dàng. Ở người cao tuổi, mạch máu trở nên cứng, kém đàn hồi. Tim co bóp bơm máu vào động mạch nhưng luôn gặp sức cản nên phải hoạt động nhiều hơn.

Ngoài ra ở người cao tuổi, tình trạng xơ vữa động mạch làm cấu trúc mạch máu bị biến đổi, thành mạch dày lên và lòng mạch hẹp lại. Đầu tiên, những thay đổi này sẽ gây bệnh tăng huyết áp. Người cao tuổi thường có huyết áp tâm thu (số trên) cao nhưng huyết áp tâm trương (số dưới) lại thấp, 2 con số này chênh lệch nhau nhiều dễ gây các bệnh tim mạch.

Như đã nói, mạch máu bị xơ cứng, giảm đàn hồi làm tim phải tăng hoạt động, về lâu dài sẽ dẫn đến hậu quả là tim bị dày lên. Tim càng dày thì càng cần có nhiều máu đến nuôi. Trong khi đó, các mạch máu bị xơ vữa lại hẹp, gây ra thiếu máu cơ tim, nặng hơn nữa là nhồi máu cơ tim. Hậu quả cuối cùng là suy tim.

Trong tim có các cơ quan rất nhỏ làm nhiệm vụ phát tín hiệu để tim co bóp. Bình thường, chúng hoạt động đều đặn và chặt chẽ, tạo ra nhịp tim rất đều. Ở người cao tuổi, các biến đổi về cấu trúc của tim có thể ảnh hưởng đến các cơ quan này, gây ra tình trạng loạn nhịp tim, nghĩa là tim đập quá nhanh, quá chậm hay không đều.

Các van tim ở người cao tuổi cũng bị thoái hóa, trở nên xơ và hóa vôi. Trong đó, van động mạch chủ thường bị nhất, các van khác cũng có thể bị ảnh hưởng và gây nên bệnh van tim người cao tuổi.

Các triệu chứng báo hiệu cần đi khám

Đau thắt ngực là triệu chứng của thiếu máu và nhồi máu cơ tim: Khi cơ tim bị thiếu máu nuôi, sẽ có triệu chứng rất đặc trưng là đau thắt ngực. Trường hợp điển hình là khi gắng sức hay xúc động, bệnh nhân sẽ có cảm giác bị đè nặng như bóp nghẹt giữa ngực, có thể thấy tê cả hàm hay tay trái, kéo dài vài phút, kèm theo khó thở hay vã mồ hôi.

Nếu ngưng gắng sức và nghỉ ngơi thì triệu chứng sẽ hết trong vài phút. Nhồi máu cơ tim là mức độ nặng nhất, khi đó mạch máu nuôi tim bị tắc hoàn toàn. Biểu hiện cũng là đau thắt ngực nhưng mức độ dữ dội hơn và kéo dài hơn 30 phút. Đây là tình trạng cấp cứu, cần nhập viện càng sớm càng tốt mới điều trị thành công.

Tuy nhiên, rất nhiều người cao tuổi bị thiếu máu cơ tim nhưng lại không có triệu chứng gì. Tình trạng này được gọi là thiếu máu cơ tim yên lặng. Điện tâm đồ có thể giúp phát hiện thiếu máu cơ tim, nhưng có nhiều thử nghiệm khác tốt hơn. Thông thường, bác sĩ yêu cầu làm thử nghiệm đạp xe gắng sức hay siêu âm tim có tiêm thuốc.

Để chẩn đoán thiếu máu cơ tim chính xác nhất, cần phải chụp mạch vành. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, bác sĩ sẽ quyết định điều trị bằng cách cho uống thuốc, nong mạch vành hoặc mổ nối mạch vành.

Triệu chứng của suy tim: Tim bị suy yếu không bơm máu đến các cơ quan đầy đủ, người bệnh sẽ thấy mệt khi vận động. Ngoài ra, máu bị ứ lại ở phổi sẽ gây khó thở khi gắng sức, ứ lại ở gan gây đau ở sườn bên phải, ứ lại ở chân gây sưng phù mu bàn chân. Khi có triệu chứng nghi ngờ, bác sĩ sẽ yêu cầu làm siêu âm tim và chụp hình phổi để chẩn đoán bệnh chính xác.

Triệu chứng của loạn nhịp tim: Về loạn nhịp tim, có rất nhiều loại bệnh khác nhau, một số loại không quá nguy hiểm (như rung nhĩ), một số khác rất nguy hiểm và cần điều trị ngay (như nhịp nhanh thất).

Tuy nhiên, các loại rối loạn nhịp tim đều gây triệu chứng tương tự nhau, bao gồm hồi hộp, đánh trống ngực, đôi khi gây chóng mặt và ngất xỉu. Ngoài ra, nếu tự sờ mạch ở tay hay cổ, người bệnh cũng có thể biết nhịp tim không đều. Để chẩn đoán rối loạn nhịp tim, cần phải đo điện tâm đồ.

Ở người cao tuổi, bệnh có thể không có triệu chứng, nhiều khi rối loạn nhịp tim xảy ra thành từng cơn, do đó để chẩn đoán có thể cần phải gắn máy ghi điện tim liên tục cả ngày (gọi là máy Holter).

TRẺ EM VÀ NGUY CƠ VỀ TIM MẠCHThật sai lầm khi cho rằng những bệnh lý về tim mạch chỉ phổ biến ở người lớn hay người cao ...
17/10/2015

TRẺ EM VÀ NGUY CƠ VỀ TIM MẠCH

Thật sai lầm khi cho rằng những bệnh lý về tim mạch chỉ phổ biến ở người lớn hay người cao tuổi. Thực tế cho thấy, nguy cơ mắc bệnh tim ở trẻ em không hề “thua kém” so với người lớn, đặc biệt là với lối sống hiện đại như ngày nay, số lượng trẻ mắc các bệnh về tim mạch ngày càng nhiều.

Điểm qua một số yếu tố nguy cơ hàng đầu có thể dẫn đến các bệnh tim mạch ở trẻ em, có thể thấy ngoài những yếu tố mang tính “bất khả kháng” như khiếm khuyết bẩm sinh, di truyền... thì đa phần những yếu tố nguy cơ khác đều bắt nguồn từ thói quen sống, sinh hoạt thường ngày, chế độ ăn uống...

Chứng béo phì

Đây là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim. Tình trạng trẻ em bị béo phì đang là vấn đề đáng báo động trong những năm gần đây. Thức ăn nhanh, đồ uống có gas và thói quen lười vận động đã khiến gia tăng đáng kể số lượng trẻ bị béo phì. Điều này đồng nghĩa với việc gia tăng những bệnh “ăn theo” chứng béo phì đó là cholesterol cao, tiểu đường và các bệnh lý về tim.

Cholesterol cao

Thủ phạm chính là chất béo bão hòa có trong các thực phẩm hằng ngày. Trẻ em ngày nay có xu hướng ăn nhiều thức ăn nhanh, đặc biệt là các món chiên, trong khi đó lại ít hoạt động thể chất. Chất béo tích tụ lâu ngày gây xơ vữa động mạch và dẫn đến bệnh tim.

Lười vận động

Thời đại công nghệ với internet, truyện tranh, TV, game và đồ chơi high-tech đã hình thành một thế hệ trẻ em chỉ thích “ngồi một chỗ”. Việc thiếu các hoạt động thể chất cần thiết sẽ làm tăng khả năng phát triển các yếu tố nguy cơ bệnh tim khác như cholesterol cao, huyết áp cao, béo phì và tiểu đường.

Với những yếu tố nguy cơ bắt nguồn từ lối sống và chế độ ăn uống, việc thay đổi và cải thiện là hoàn toàn khả thi, chỉ cần kiên trì và làm đúng phương pháp để giúp trẻ thay đổi ngay từ hôm nay nhằm giảm thiểu những bệnh lý tim mạch trong tương lai.

Tuy nhiên như đã nói, với một số yếu tố nguy cơ khác như dị tật tim bẩm sinh, bệnh tim bẩm sinh, bệnh do di truyền trong gia đình hoặc di chứng của một bệnh tật nào đó đã từng mắc phải thì việc kiểm soát sẽ khó khăn hơn.

Dù là yếu tố nguy cơ nào cũng vậy, việc phòng chống vẫn là cách tốt nhất để trẻ tránh những vấn đề tim mạch sau này. Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ khi còn nhỏ sẽ giúp trẻ giảm được các bệnh lý về tim khi trưởng thành.

Ngoài việc hướng cho trẻ một chế độ ăn uống, sinh hoạt và lối sống lành mạnh, phụ huynh cũng cần cho trẻ kiểm tra sức khỏe định kỳ, tầm soát để phát hiện sớm nhất các biểu hiện của bệnh tim mạch.

NHỮNG CÂY THUỐC QUÝ CHỮA BỆNH TIM MẠCH - Đan sâmTên khoa học là Salvia multiosrrhiza Bunge, họ Hoa môi (LAMIACEAE) tr...
15/10/2015

NHỮNG CÂY THUỐC QUÝ CHỮA BỆNH TIM MẠCH

- Đan sâm

Tên khoa học là Salvia multiosrrhiza Bunge, họ Hoa môi (LAMIACEAE) trước đây phải nhập từ Trung Quốc nhưng hiện tại đã trồng được ở Việt Nam. Đan là đỏ, sâm là sâm vì rễ cây này giống sâm mà lại có màu đỏ.

Thu hoạch ở Tam Đảo về mùa đông, đào rễ, rửa sạch, cắt bỏ cây và rễ con, phơi hoặc sấy khô.

Đan sâm có tác dụng hoạt huyết, bổ huyết, đặc hiệu trên tim và mạch vành, rối loạn vận mạch (co thắt động mạch, vành tim), di chứng tai biến mạch máu não.

- Tam thất

Tên khoa học là:

Panax noto ginseng (Burk). F.H. Chen, họ Ngũ gia bì (Araliaceae) Cây trồng từ lâu ở Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng.
Người ta coi Tam thất là một loại thuốc bổ như Nhân sâm, được dùng thay Nhân sâm.

Tam thất còn chữa các bệnh do huyết ứ trệ (co thắt động mạch vành, thiếu máu, suy nhược cơ thể). Hiện ngoài thị trường có bán thuốc Đan sâm – Tam thất để chữa bệnh đau thắt ngực, thiểu năng mạch vành… Mỗi viên thuốc có 1g Đan sâm và 0,07g Tam thất, ngày uống 3 viên 1 lần, ngày 3 lần. Thuốc không dùng cho phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh, người sốt cao, sốt xuất huyết.

- Cây dừa cạn

Tên khoa học là Cathvanthus roseus L. G.Don; Vinca rosea L.; Lochnera rosea Ruics.; họ Trúc đào (apocy naceae).

Cây Dừa cạn mọc hoang dại và được trồng ở nhiều nước nhiệt đới như Việt Nam, ấn Độ, Châu Phi…

Các hoạt chất nổi tiếng là Vinca leuco blastin Leurocristin và Leurosidin chữa các bệnh có khối u như bệnh Hodgkin. ở Việt Nam, nhân dân dùng cây, lá và rễ chế thuốc sắc chữa huyết áp, tiểu đường và làm thuốc lợi tiểu. Ngày dùng 10 – 16g.

- Cây hòe hoa

Tên khoa học là Sophora japonica L.; họ Cánh bướm (papilionaceae). Cây mọc hoang và trồng ở khắp nơi trong nước ta. Trong hoa và quả có chất Rutin dùng cho bệnh nhân cao huyết áp để tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Rutin làm thuốc viên 0,02g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 hay 2 viên.

- Cây Cúc hoa

Cây Cúc hoa có 2 loại:

Cúc hoa trắng (Chrysan thenum sinensis )
Cúc hoa vàng (Chrysanthenum indicum).

Cây Cúc hoa thuộc họ Cúc (asteraceae). Cây được trồng nhiều ở nước ta để ướp chè, chữa cao huyết áp. Liều dùng 9 – 15g ở dạng thuốc sắc (dùng riêng hay kết hợp với các vị thuốc khác).

Trên thị trường có bán Trà tan Casoran bao gồm Dừa cạn, Hoa hoè, Cúc hoa kết hợp với Tâm sen, Cỏ ngọt để chữa các bệnh tăng huyết áp (thể nhẹ và vừa); tăng cholesterol máu, xơ vữa động mạch, có nguy cơ tai biến mạch máu não.

Liều dùng mỗi ngày 3 – 4 lần (mỗi lần một gói), duy trì ngày 2 lần mỗi lần 1 gói. Hoà tan 1 gói vào 100ml nước nóng rồi uống.

- Cây bạch quả

Tên khoa học Ginkgo bibola Lin, họ Bạch quả (Ginkgoaceae). Cây trồng ở Trung Quốc, Nhật Bản.

Ở miền Bắc Việt Nam, nhà thực vật học người Pháp Pételot phát hiện cây này ở một số vườn hoa và quanh một số ngôi chùa để làm cảnh.

Cao lá chứa 242 gingkgo glucosid và 6% các gingkgolid bilobahd viên nén có 40mg cao khô lá Bạch quả. Lọ 30ml dung dịch cũng có 40mg cao cho 1ml.

Công dụng: Phòng và điều trị tai biến mạch máu não. Giảm trí nhớ và kém tập trung tư tưởng ở người cao tuổi chống stress.

Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1ml dung dịch hay 1 viên nén vào bữa ăn. Xí nghiệp dược phẩm Hà Nội có bán biệt dược HanoKan chứa hoạt chất cây Bạch quả.

Lưu ý: Phụ nữ có thai không dùng thuốc này. Thuốc ít thấy phản ứng phụ (rối loạn tiêu hoá, nhức đầu, dị ứng ngoài da).

TÌM HIỂU VỀ BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH TAKAYASUBệnh viêm động mạch Takayasu là một loại hiếm gặp của viêm mạch, một nhóm các rố...
14/10/2015

TÌM HIỂU VỀ BỆNH VIÊM ĐỘNG MẠCH TAKAYASU

Bệnh viêm động mạch Takayasu là một loại hiếm gặp của viêm mạch, một nhóm các rối loạn gây viêm mạch máu. Trong bệnh viêm động mạch Takayasu, viêm tổn thương động mạch chủ - động mạch lớn mang máu từ tim tới phần còn lại của cơ thể - và các nhánh chính của động mạch chủ. Bệnh này có thể dẫn đến tắc nghẽn hoặc hẹp động mạch, hoặc động mạch giãn nở bất thường, gọi là chứng phình động mạch.

Bệnh viêm động mạch Takayasu cũng có thể dẫn đến đau cánh tay hoặc đau ngực, huyết áp cao, và cuối cùng là suy tim hoặc đột quỵ.

Bệnh viêm động mạch Takayasu chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em gái và phụ nữ dưới 40 tuổi. Nguyên nhân chính xác của bệnh chưa được biết.

Mục tiêu của điều trị là làm giảm viêm động mạch và ngăn ngừa các biến chứng tiềm năng. Ngay cả với phát hiện và điều trị sớm, tuy nhiên, bệnh viêm động mạch Takayasu có thể là thách thức để quản lý.

Các triệu chứng :

- Các triệu chứng giai đoạn đầu

Bệnh viêm động mạch Takayasu thường xảy ra trong hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, có thể cảm thấy không khỏe, với:

Mệt mỏi.

Giảm cân nhanh chóng, ngoài ý muốn.

Đau cơ bắp hoặc đau khớp.

Sốt nhẹ.

Không phải tất cả mọi người có những triệu chứng ban đầu, tuy nhiên, và nó có thể bị viêm hay tổn thương động mạch trong nhiều năm trước khi vấn đề xuất hiện.

- Các triệu chứng giai đoạn thứ hai

Triệu chứng của giai đoạn thứ hai bắt đầu phát triển khi viêm động mạch đã gây ra thu hẹp mạch máu, giảm số lượng máu, oxy và chất dinh dưỡng đến các cơ quan và các mô nhất định. Những dấu hiệu và triệu chứng có thể bao gồm:

Yếu hoặc đau cánh tay hoặc chân.

Hoa mắt, chóng mặt, ngất, đau đầu.

Khó khăn trong suy nghĩ và ghi nhớ.

Rối loạn thị giác.

Tăng huyết áp.

Sự khác biệt huyết áp giữa hai cánh tay.

Mạch yếu hoặc vắng mặt ở cổ tay, viêm động mạch Takayasu đôi khi gọi là bệnh mạch yếu vì động mạch thu hẹp có thể làm bắt mạch khó hoặc không thể phát hiện.

Thiếu máu, có thể làm cho cảm thấy mệt mỏi hay yếu.

Đau ngực.

Ở một số người, tăng áp động mạch phổi dẫn đến khó thở và mệt mỏi.

Nếu có các triệu chứng có thể cho thấy bệnh viêm động mạch Takayasu, hãy gặp bác sĩ. Nhiều dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm động mạch Takayasu tương tự như những điều kiện khác, có thể làm cho chẩn đoán đầy thách thức. Tuy nhiên, phát hiện sớm bệnh là quan trọng để có được lợi ích nhiều nhất từ điều trị và ngăn ngừa biến chứng.

Nếu đã được chẩn đoán bệnh viêm động mạch Takayasu, hãy ghi nhớ rằng các triệu chứng của bệnh bùng phát (tái phát) thường tương tự như đã xảy ra khi căn bệnh bắt đầu đầu tiên. Ngoài ra chú ý đến bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mới. Đây có thể chỉ ra dấu hiệu bùng phát bệnh hoặc biến chứng của điều trị.

Nguyên nhân

Trong bệnh viêm động mạch Takayasu, động mạch chủ và động mạch lớn khác, bao gồm cả những mạch dẫn lên đầu và thận bị viêm. Theo thời gian, tình trạng viêm gây ra những thay đổi trong các động mạch, bao gồm thành mạch dày lên, thu hẹp và sẹo. Kết quả là giảm lưu lượng máu đến các mô và cơ quan quan trọng, có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng và thậm chí tử vong.

Đôi khi động mạch trở nên giãn nở bất thường, dẫn đến chứng phình động mạch và có thể có vỡ.

Những gì gây ra viêm trong bệnh viêm động mạch Takayasu ban đầu không được biết. Khả năng bệnh viêm động mạch Takayasu là một bệnh tự miễn, trong đó trục trặc hệ thống miễn dịch và tấn công động mạch như thể nó là chất ngoại lai.

Các yếu tố nguy cơ :

Bệnh viêm động mạch Takayasu chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em gái và phụ nữ ở độ tuổi 20 và 30. Rối loạn xảy ra trên toàn thế giới, nhưng phổ biến nhất ở phụ nữ châu Á.

Các biến chứng :

Mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm động mạch Takayasu có thể khác nhau. Ở một số người, vấn đề vẫn còn nhẹ và không tạo ra biến chứng. Nhưng ở những người khác, chu kỳ kéo dài hoặc định kỳ của chứng viêm và chữa bệnh trong các động mạch có thể dẫn đến một hoặc nhiều điều sau đây:

Thu hẹp các mạch máu, có thể gây giảm lưu lượng máu đến các cơ quan và các mô.

Huyết áp cao, thường là kết quả của việc giảm lưu lượng máu đến thận.

Viêm tim hoặc cơ tim, viêm màng ngoài tim hoặc viêm các van tim (valvulitis).

Suy tim do hở van động mạch chủ, viêm cơ tim hoặc động mạch chủ - tình trạng trong đó van động mạch chủ bị tổn thương cho phép máu trở lại vào tim - hoặc kết hợp.

Đột quỵ, thiếu máu cục bộ, một loại đột quỵ xảy ra là kết quả của lưu lượng máu giảm hoặc bị tắc động mạch dẫn đến não.

Thiếu máu cục bộ thoáng qua, một cơn đột quỵ tạm thời có tất cả các triệu chứng của cơn đột quỵ, thiếu máu cục bộ mà không gây thiệt hại lâu dài.

Chứng phình động mạch trong động mạch chủ, xảy ra khi thành của các mạch máu bị yếu đi và căng ra, có khả năng vỡ.

Nhồi máu cơ tim - mặc dù không phổ biến, nó có thể xảy ra là kết quả của giảm lưu lượng máu đến tim.

Bệnh phổi, khi gấy bệnh động mạch phổi.

Trong các nghiên cứu, các phụ nữ mang thai với bệnh viêm động mạch Takayasu, hầu hết phụ nữ sinh em bé khỏe mạnh. Tuy nhiên, bệnh có thể gây ra rủi ro cho mẹ và em bé, và các loại thuốc để điều trị nó cũng có thể gây ra vấn đề.

Nếu có bệnh viêm động mạch Takayasu và đang có kế hoạch mang thai, điều quan trọng là làm việc với bác sĩ để phát triển một kế hoạch toàn diện để hạn chế biến chứng của thai kỳ trước khi thụ thai. Ngoài ra, sẽ được giám sát chặt chẽ trong suốt thai kỳ.

Address

581/13 Trường Chinh, Phường Tân Sơn Nhì, Quận Tân Phú
Ho Chi Minh City
700000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trị Bệnh Tim Mạch Bằng Thảo Dược Gia Truyền posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Trị Bệnh Tim Mạch Bằng Thảo Dược Gia Truyền:

Share